TƯ VẤN CÔNG NGHỆ

CÔNG NGHỆ CHẾ BIẾN SÂU QUẶNG TITAN TRÊN THẾ GIỚI,  CÔNG NGHỆ LUYỆN XỈ TITAN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ HƯỚNG ĐI HOÀN THIỆN
  CÔNG TY CỔ PHẦN VINANOMETAL 
 Kỹ sư Cao Văn Hồng
Nước ta có nguồn quặng titan không lớn, nhưng rất đáng tiếc: trong những năm qua chúng ta khai thác với tốc độ quá cao, hầu như chế biến sâu rất ít, chủ yếu  xuất khẩu quặng tinh titan, sản lượng quặng tinh xuất khẩu hàng năm hiện nay đứng hàng thứ 6 thế giới trong khi trữ lượng khai thác chỉ đứng thứ 11 (số liệu năm 2010). Các doanh nghiệp titan Việt Nam đã cố gắng áp dụng một số công nghệ như: công nghệ hoàn nguyên ilmenit, công nghệ luyện xỉ titan,  nhưng còn tồn tại nhiều vấn đề, chủ yếu chưa hoàn thiện kỹ thuật nên kém hiệu quả kinh tế và ô nhiễm môi trường. Có thể nói rằng công nghệ chế biến sâu quặng titan Việt Nam đang trong giai đoạn khởi đầu rất khó khăn. Mới đây có thông tin tổng tài nguyên dự báo quặng titan của Việt Nam có thể lên trên 600 triệu tấn. Nếu quả như vậy thì tài nguyên titan dự báo của Việt Nam có thể xếp thứ hai thế giới, sau Trung Quốc. Tuy nhiên theo thông tin cho biết trữ lượng quặng titan dự báo chủ yếu nằm trong vùng Bình Thuận – một vùng rất khó khăn trong khai thác do thiếu nước và do hàm lượng titan quá thấp. Vì vậy vấn đề nghiên cứu lựa chọn công nghệ chế biến sâu titan hiện nay là rất cần thiết. Bài báo này sẽ góp phần làm sáng tỏ cho định hướng trong thời gian tới

1.      Xu hướng công nghệ chế biến sâu quặng titan trên thế giới
Trên thế giới nguồn quặng titan chủ yếu có hai loại: Quặng gốc và sa khoáng. Nói chung  hàm lượng khoảng  2–5% TiO2 và thường đi kèm với  các khoáng vật và nguyên tố hóa học khác. Sau khi chế biến thô bằng các phương pháp tuyển thông dụng thu được quặng tinh titan có hàm lượng 45–52% TiO2. Quặng tinh titan tiếp tục được chế biến sâu thành nhiều sản phẩm và được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành công nghiệp. Công nghệ chế biến sâu quặng titan trên thế giới có nhiều phương pháp theo 3 cấp, từ thấp đến cao, mỗi cấp có chất lượng và giá trị sản phẩm được nâng cao hơn (Hình 1)


-    Chế biến làm giàu thực chất là quá trình nâng cao chất lượng nguyên liệu đầu vào (ilmenit các loại) lên mức độ cao hơn. Cấp chế biến này có công nghệ luyện xỉ titan và sản xuất rutil nhân tạo. Sản phẩm sau chế biến có hàm lượng TiO2 cao tới 70-95 %, được dùng cho sản xuất que hàn và làm nguyên liệu để sản xuất pigment titan và titan kim loại.
- Chế biến sâu là quá trình công nghệ sản xuất pigment titan. Tuỳ theo đặc thù quá trình công nghệ, nguyên liệu đầu vào là xỉ titan và rutil nhân tạo, cũng có thể là rutil tự nhiên hoặc quặng tinh ilmenit
-   Chế biến sâu cao cấp (Công nghệ cao) là quá trình công nghệ sản xuất kim loại titan và các sản phẩm của kim loại titan. Để sản xuất kim loại titan đầu tiên sản xuất ra clorua titan bằng phương pháp clorua hoá từ các chế phẩm từ titan (ilmenit chất lượng cao, xỉ titan và rutil các loại). Sau đó luyện ra titan xốp. Từ titan xốp luyện ra kim loại titan dạng thỏi hoặc thanh. Kim loại và hợp kim titan được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp hàng không, vũ trụ, hàng hải, thép hợp kim chịu nhiệt và chịu mài mòn…
1.1. Công nghệ chế biến làm giàu
Ngày nay gần 95% titan được sử dụng ở dạng pigment TiO2. Khối lượng nguyên liệu đầu vào sản xuất pigment rất lớn, mỗi năm khoảng 5,5 triệu tấn. Công nghệ chế biến xỉ titan và rutil nhân tạo chiếm vị trí rất quan trọng, cung cấp 50% nguyên liệu đầu vào cho sản xuất pigment. Xỉ titan và rutil nhân tạo không những là nguyên liệu để sản xuất pigment mà còn được dùng để sản xuất que hàn điện và chế biến thành titan kim loại. Rutil còn dùng để sản xuất điện trở chịu ăn mòn và sử dụng trong ngành hóa học. Trên thế giới thực tế hai quá trình chế biến làm giàu và chế biến sâu cùng song song phát triển.
1.1.1. Công nghệ sản xuất xỉ titan

Công nghệ sản xuất xỉ titan được nghiên cứu ở Nga vào năm 1903. Ngày nay đã được ứng dụng và phát triển rộng rãi trên thế giới, tập trung vào các nước: Canađa, Nam Phi, Na Uy, Ucraina, Nhật Bản...
Trước đây thường áp dụng công nghệ luyện xỉ titan một giai đoạn. theo sơ đồ công nghệ nguyên tắc trình bày trên Hình 2.

Nguyên liệu ban đầu là ilmenit hoặc titanô-manhetit, được trộn và ép bánh với chất hoàn nguyên và chất phụ gia. Sau đó luyện trong lò điện hồ quang. Oxyt sắt được hoàn nguyên đến kim loại còn oxyt titan hoàn nguyên đến oxyt hoá trị thấp (Ti3O5, Ti2O3, TiO). Sản phẩm nhận được là gang hợp kim và xỉ titan. Gang hợp kim có thể chế biến sử dụng cho luyện thép và sản xuất bột sắt. Xỉ titan tuỳ theo thành phần hoá học được sử dụng sản xuất pigment, titan kim loại và que hàn điện. Công nghệ luyện một giai đoạn có một số nhược điểm:
-   Quá trình hoàn nguyên và nấu chảy cùng diễn ra trong một thiết bị nên liệu sôi mạnh, các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật thấp.
-   Trong giai đoạn luyện về cuối, xỉ titan thay đổi độ dẫn điện khá mạnh dễ gây hiện tượng đoản mạch nên điều khiển lò rất khó khăn.
Trong những năm gần đây người ta đã nghiên cứu và áp dụng công nghệ luyện xỉ titan hai giai đoạn, khắc phục được những thiếu sót của công nghệ luyện một giai đoạn. Sơ đồ nguyên lý luyện hai giai đoạn trình bày trên Hình 3.Do quặng được thiêu hoàn nguyên trước nên sắt oxyt đã được chuyển thành sắt kim loại. Khi luyện lò hồ quang chủ yếu thực hiện quá trình nấu chảy để phân tách hai sản phẩm xỉ và gang, còn quá trình phản ứng hoàn nguyên diễn ra không đáng kể. Lò hoạt động rất êm, các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật được cải thiện nhiều, đặc biệt là chi phí điện năng giảm mạnh. Công nghệ này áp dụng phổ biến trên thế giới (Bảng 1).Theo sự phát triển của khoa học, công nghệ và thiết bị luyện xỉ titan ngày càng hoàn thiện. Người ta đã áp dụng công nghệ luyện hai giai đoạn trên một hệ thống thiết bị rất hoàn hảo. Đầu tiên quặng được thiêu hoàn nguyên trước trong thiết bị lò thiêu lớp sôi hoặc lò quay. Sau khi thiêu hoàn nguyên liệu còn nóng, được chuyển thẳng vào lò hồ quang, thực hiện quá trình luyện xỉ titan. Do liệu đã được hoàn nguyên và được gia nhiệt trước nên chi phí điện năng giảm đi nhiều. Ngoài ra nhiệt dư của khí lò được tận dụng cho lò thiêu nên chi phí điện năng càng giảm. Toàn bộ thiết bị hoạt động trong môi trường kín, có hệ thống lọc bụi, xử lý khí nên môi trường được đảm bảo. 


Bảng 1. Một số hãng sản xuất lớn xỉ titan

Trong sản xuất xỉ titan cơ cấu giá thành quặng tinh chiếm 66 %, năng lượng điện chiếm 12 %; hai chỉ tiêu này chiếm 78 % giá thành, cho nên cần quan tâm đến chỉ tiêu chi phí điện năng. Trong bảng 2 dưới đây sẽ cho thấy rõ hơn con đường hoàn thiện công nghệ và thiết bị để giảm chi phí điện năng. Gần đây nhất Hãng Outotec lại có hoàn thiện thiết bị bằng thay thiết bị tuyển từ nguội bằng thiết bị tuyển từ nóng ngay sau công đoạn thiêu hoàn nguyên lò quay, nên đã giảm được tiêu hao điện năng xuống còn 930KWh/tấn xỉ
Một số nhận xét
-    Công nghệ luyện xỉ titan không đòi hỏi khắt khe nguyên liệu đầu vào.
-    Các sản phẩm của luyện xỉ titan là xỉ titan và gang đều được sử dụng. Công nghệ này không có phế thải, thân thiện với môi trường. Xỉ titan là nguyên liệu tốt cho sản xuất pigment theo cả hai quá trình sulphat và clorua.
-    Luyện xỉ titan thích hợp với luyện quặng titan gốc vì các khả năng thu hồi được các nguyên tố hiếm cộng sinh như: V, Ta, Nb.
-    Dây chuyền công nghệ ngắn, chiếm ít diện tích, dễ đầu tư nhà máy có công suất lớn.
-    Nhược điểm: chỉ thích hợp với nơi có nguồn điện giá rẻ, đặc biệt là luyện xỉ một giai đoạn. Nhưng đến nay công nghệ luyện xỉ titan hiện đại đã khắc phục được nhược điểm này (chi phí điện năng chỉ còn 930 KWh/tấn xỉ, trong khi sản xuất pigment là 1000 KWh/ tấn pigment).
Bảng 2. So sánh chỉ tiêu chi phí điện năng luyện trong lò hồ quang kiểu kín
 

1.1.2. Công nghệ sản xuất rutil nhân tạo
Công nghệ sản xuất rutil nhân tạo là quá trình tách sắt và các chất cộng sinh để làm giàu quặng ilmenit và thường áp dụng công nghệ thuỷ luyện kết hợp hỏa luyện. Công nghệ được áp dụng từ năm 1951 và  ngày càng được hoàn thiện để cung cấp nguyên liệu cho sản xuất pigment có chất lượng tốt hơn. Hiện nay có một số quá trình chủ yếu sau: Quá trình Becher; quá trình Benelite; quá trình ERMS.
¨  Quá trình Becher SR
Đầu tiên quặng tinh ilmenit được thiêu oxy hoá ở nhiệt độ khoảng 1000oC
2FeTiO3 + 1/2 O2 = Fe2TiO5 +TiO2            (1)
Sau đó dùng than làm chất hoàn nguyên và thiêu hoàn nguyên ở nhiệt độ cao hơn khoảng 1200oC để chuyển hầu hết sắt oxyt thành sắt kim loại.
Fe2TiO5 +TiO2 +3C = 2Fe + 3CO­ + 2TiO2        (2)
Sử dụng phương pháp tuyển từ để tách than dư trong thiêu phẩm và nhận được ilmenit hoàn nguyên sạch cacbon. Hoà tách tiếp theo bằng dung dịch nước có cho thêm NH4Cl làm xúc tác và sục không khí tạo môi trường hoà tách oxy hoá:
3Fe + 3TiO2+ 2O2 = Fe3O4 + 3TiO2             (3)
Phân tách huyền phù Fe3O4 khỏi TiO2 thể rắn bằng xyclon thuỷ lực. Nung chất rắn nhận được sản phẩm rutil nhân tạo.
+   Quá trình này có một số đặc điểm sau:
-    Thiêu hoàn nguyên trong môi trường hoàn nguyên mạnh để chuyển sắt oxyt  thành sắt kim loại.
-    Hoà tách chỉ dùng nước và không khí trong sự có mặt của xúc tác NH4Cl.
-    Nhận được rutil  nhân tạo có chất lượng tương đối cao 92-94% TiO2.
-    Lượng phế thải chủ yếu là Fe3O4 chiếm tỉ lệ nhỏ hơn công nghệ pigment sulphat  (0,7 tấn phế thải/1 tấn SP).
-    Lượng oxyt sắt chiếm khoảng 40% lượng nguyên liệu có thể đưa đi luyện thép. Năm 1997 ở Úc người ta đã ép bánh phế thải Fe3O4 đưa luyện ra thép thỏi.
-    Nhược điểm: yêu cầu quặng đầu vào lớn hơn 57% TiO2 (loại ilmenit biến đổi).
Quá trình Becher đã được áp dụng rộng rãi ở Úc: Hãng Tiwestjon Venture sản xuất từ năm 1990 công suất 190.000 tấn rutil/năm (loại 94% TiO2); Năm 1995, Úc sản xuất rutil  nhân tạo bằng quá trình Becher: 450.000 tấn tại TiCor ( TOR) và Iluka Resources (ILU).


¨  Quá trình Benelite SR (Benelite Cyclic Process)
Quá trình này được phát triển bởi Công ty Benelite Corporation của Mỹ.
Đầu tiên ilmenit được thiêu hoàn nguyên trong lò quay ở nhiệt độ thấp (870oC) để chuyển Fe2O3 về FeO.
TiO2.FeO.Fe2O3 + C  = TiO2.FeO.2FeO + CO­  (4)
Dầu là nhiên liệu đốt lò đồng thời là chất hoàn nguyên. Sau đó hoà tách thiêu phẩm trong dung dịch axit clohydric ở điều kiện: Nồng độ HCl 18 – 20% ; nhiệt độ 140 oC và áp suất 0,29 MPa.
TiO2.FeO.2FeO + 6 HCl = TiO2 + 3FeCl2 + 3H2O  (5)
Sau lọc rửa nhận được chất rắn không tan, đem đi nung nhận được rutil nhân tạo. Dung dịch muối sắt FeCl2 còn lại được tái sinh trong lò kiểu phun tia đồng thời thu được Fe2O3 và HCl.
2 FeCl2 + H2O + 1/2 O2 = Fe2O3 +4HCl    (6)
+   Quá trình này có một số đặc điểm sau
-    Có thể xử lý được quặng ilmenit có hàm lượng thay đổi trong phạm vi rộng.
-    Có thể tách được các tạp chất Mg, Ca, U, Th nhận được sản phẩm rutil  nhân tạo có chất lượng cao hơn quá trình Becher ( 94% TiO2).
-    Nhược điểm: thiết bị hoà tách đòi hỏi chịu nhiệt, chịu axit nên tốn kém hơn. Cũng thải ra lượng Fe2O3 như quá trình Becher, có thể đưa luyện gang thép.
Chỉ tiêu cho 1tấn rutil  nhân tạo: 1,83 tấn quặng tinh 53–54% TiO2; 0,15 tấn HCl; 0,54 tấn nhiên liệu và chất hoàn nguyên; 1,25 tấn hơi nước.
Hãng Kerr. McGee đã áp dụng quá trình này để sản xuất rutil nhân tạo công suất 91.000 tấn/năm (tính theo kim loại). Xưởng đã chế biến hầu hết chất thải và thực hiện không có chất thải lỏng. Hãng Titan Malayxia ở Ipoh và Iluka cũng áp dụng quá trình này để sản xuất rutil nhân tạo.


¨  Quá trình ERMS và EARS
Quá trình ERMS và EARS là quá trình được phát triển dựa trên sáng chế của  Austpac (APG). Tháng 8 năm 2001, Austpac và Công ty Ticor thông báo nghiên cứu sản xuất rutil nhân tạo phù hợp cho chế biến nâng cao chất lượng ilmenit vùng mỏ Murray Basin.
Công việc nghiên cứu được Austpac – Ticor Join Venture thực hiện trong năm 2000. Sơ đồ công nghệ bao gồm hai quá trình ERMS và EARS.
Quá trình ERMS là quá trình thiêu hoàn nguyên kết hợp tuyển từ. Ilmenit được thiêu hoàn nguyên có mức độ để chuyển ôxýt sắt thành dạng có thể hoà tan còn rutil chuyển thành dạng không có khả năng hoà tan. Sản phẩm thiêu được hoà tách nhanh trong HCl dưới áp suất khí quyển để tách sắt và để lại tinh thể rutil nằm trong các hạt ilmenit. Đem rửa lọc và nung được sản phẩm rutil nhân tạo thương mại (hàm lượng 96-98% TiO2).
Quá trình EARS là quá trình xử lý FeCl2 thành sản phẩm phụ Fe2O3 (dùng được cho luyện thép và sản xuất xi măng) đồng thời tái sinh axit clohydric để dùng lại cho quá trình hoà tách.
Ưu điểm của phương pháp này là:
-    Quá trình đa năng, đã thử nghiệm xử lý được trên 80 loại quặng ilmenit, đặc biệt là loại cao crôm.
-    Có thể sử dụng nhiên liệu rắn, lỏng hoặc khí.
-    Nhận được hai loại sản phẩm là rutil nhân tạo chất lượng rất cao >97% TiO2 và sản phẩm trung gian Fe3O4 ở dạng viên, là thương phẩm, không phải là chất thải.
-    Quá trình vận hành liên tục.
-    Thân thiện với môi trường: Thu hồi HCl cao; không sản sinh khí độc hại Cl2, Dioxin và Furan; có thể cân bằng nước, không thải chất lỏng.
-    Hệ số sử dụng năng lượng cao, không yêu cầu bổ sung nhiên liệu.
Phương pháp này mới chỉ được thử nghiệm ở qui mô bán công nghiệp và đang xây dựng nhà máy sản xuất qui mô công nghiệp.
Chất lượng sản phẩm rutil nhân tạo và sắt viên được trình bày trên Bảng 3.












1.1.3. Nhận xét công nghệ chế biến làm giàu quặng titan trên thế giới 
-   Các quá trình đều có chi phí đầu tư, chi phí vận hành thấp hơn nhiều quá trình sản xuất pigment và chỉ số lợi nhuận khá cao.
-   Trong các quá trình sản xuất rutil nhân tạo thì quá trình ERMS là quá trình có hiệu quả nhất, chất lượng sản phẩm cao nhưng đầu tư và chi phí vận hành thấp nhất.

1.2. Công nghệ chế biến sâu sản xuất pigment titan
Ngày nay công  nghệ sản xuất pigment TiO2 đã được phát triển rất nhanh, đầu tiên là quá trình sulphat, được thực hiện vào năm 1916. Nguyên liệu đầu vào lúc đó là ilmenit. Đầu năm 1958, người ta đã phát minh ra phương pháp clorua. Hãng Dupont là cơ sở đầu tiên sản xuất pigment bằng phương pháp clorua. Nguyên liệu đầu vào là rutil tự nhiên, rutil nhân tạo và xỉ titan. Gần đây người ta phát minh ra công nghệ Altair có nhiều ưu điểm nổi bật, song mới nghiên cứu ở qui mô bán công nghiệp, chưa được ứng dụng vào sản xuất công nghiệp.
¨  Quá trình sulphat
-    Ưu điểm của quá trình này là: Nguyên liệu ban đầu có thể sử dụng trực tiếp ilmenit, xỉ titan sulphat, clorua loại mịn của quá trình clorua; có thể sản xuất ra hai loại pigment: dạng rutil và anataz; đến nay sản phẩm của quá trình này chiếm khoảng 40% và được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp.
-    Nhược điểm của quá trình là: Thiết bị đòi hỏi chịu được môi trường axit sulphuric đậm đặc nhiệt độ cao; quặng đầu vào phải khống chế hàm lượng crôm khắt khe; số lượng lớn sắt vụn cung cấp cho công đoạn hoàn nguyên, chi phí  2-2,5 tấn sắt/ tấn sản phẩm; có số lượng phế thải lớn nhất, tác động xấu đến môi trường sống: 3 tấn FeSO4/ 1tấn TiO2 và dung dịch H2SO4 loãng (20 - 22%) chứa các tạp chất; phải trang bị thêm hệ thống thiết bị xử lý phế thải để chuyển chúng thành các sản phẩm phụ nên dây chuyền công nghệ kéo dài và phức tạp hơn; chi phí đầu tư lớn và phải có thị trường tiêu thụ các sản phẩm phụ như:  sulphat sắt, thạch cao... và phải đầu tư dây chuyền sản xuất axit sulphuríc.
¨  Quá trình clorua
-    Ưu điểm: Là phương pháp tiên tiến, được áp dụng từ năm 1958; do nguyên liệu đầu vào yêu cầu chất lượng cao, (> 85 TiO2) nên ít chất thải hơn, thường 0,2 tấn chất thải (Fe2O3)/tấn TiO2 ; thiết bị được trang bị hiện đại có năng suất cao, nên thường gọn nhẹ hơn quá trình sulphat; kiểm tra sản phẩm chặt chẽ hơn; so với quá trình sulphat chi phí vận hành thấp hơn, lao động đỡ nặng nhọc, đòi hỏi ít nhân công hơn. Và có hiệu quả kinh tế cao hơn. Hiện nay quá trình clorua chiếm 60% sản lượng pigment, trong tương lai có thể lên tới 70%.
-        Nhược điểm: Nguyên liệu đầu vào yêu cầu khắt khe hơn: tối thiểu 85% TiO2, chứa ít oxyt kim loại kiềm thổ, các kim loại nặng như Cr, V, có hàm lượng nhỏ; chỉ nhận được một loại sản phẩm pigment dạng rutil, có giới hạn kích thước hẹp; chỉ thích hợp với qui mô sản xuất lớn (40.000 -50.000tấn/năm).
Nhược điểm cơ bản là quá trình độc quyền, không chuyển giao công nghệ và chi phí đầu tư lớn: 3500 - 4500 USD/ tấn TiO2.
¨  Quá trình Altair
Quá trình Altair là một phát minh hoàn toàn mới trong lĩnh vực sản xuất pigment titan thẳng từ ilmenit, khởi nguồn từ phát minh quá trình clorua hoá của hãng Dupont. Bản chất của phương pháp là hoà tách nguyên liệu chứa titan bằng dung dịch axit clohydric nồng độ cao và dư axit (nồng độ trên 410 g/l HCl). Khi đó hầu hết các nguyên tố hoà tan chuyển thẳng vào dung dịch.
Dùng bột sắt hoàn nguyên ion Fe3+ trở về Fe2+, sau đó làm nguội dung dịch và bổ sung axit HCl để kết tinh và tách ra muối FeCl2. Dung dịch sau tách sắt được làm sạch các tạp chất còn lại bằng phương pháp chiết tách dung môi hai lần. Dung dịch titan nhận được đem thuỷ phân tạo thành hydrat bằng phương pháp thuỷ phân kiểu phun, sau đó đem xử lý bề mặt nhận được sản phẩm pigment có đặc tính theo yêu cầu, hoặc rutil, có thể là anataz trong dải kích thước hẹp và có thể tạo kích thước hạt nano.
Tinh thể FeCl2 và nước rửa chứa Fe2+, Fe3+ và các tạp chất khác đem xử lý qua công đoạn nhiệt - thuỷ phân để thu khí HCl và nhận sản phẩm phụ Fe2O3. Khí HCl đem tái sinh axit HCl quay vòng cho chu trình hoà tách ban đầu.
-    Ưu điểm: Có thể xử lý trực tiếp quặng ilmenit, thích hợp với loại quặng có chứa crôm và các nguyên tố phóng xạ; chỉ cần dùng axit HCl không dùng khí Clo (Cl2); toàn bộ quá trình sản xuất là một chu trình khép kín không có phế thải và ít tác động đến môi trường; nhận được sản phẩm pigment; được sản phẩm trung gian là Fe2O3 cung cấp cho ngành luyện kim; Axit HCl được quay vòng tái sử dụng lại.
-    Quá trình thuỷ phân áp dụng thiết bị kiểu phun kết hợp nung, nghiền ướt có ưu điểm hơn hẳn quá trình sulphat và quá trình clorua ở chỗ tạo ra được sản phẩm có kích thước nhỏ mong muốn tới kích thước nano và nhận được sản phẩm ở cả hai dạng rutil và anataz.
-    Kết quả nghiên cứu cho thấy có hiệu quả kinh tế hơn nhiều so với các quá trình đang vận hành hiện nay tại các cơ sở sản xuất, có chỉ số đầu tư thấp, chi phí vận hành thấp và qui mô công suất không nhất thiết phải lớn như quá trình clorua hoá.
-    Nhược điểm: quá trình này mới được nghiên cứu đầu tiên ở qui mô pilot, hiện nay chưa được ứng dụng vào sản xuất; chưa có sản phẩm thương mại trên thị trường.
            1.3. Công nghệ chế biến titan kim loại (Công nghệ cao)
Titan kim loại được tìm ra năm 1790. Kim loại titan được sản xuất thành thương phẩm vào năm 1948 do hãng Dupont theo quá trình Kroll. Khoảng 5% quặng titan dùng để sản xuất titan kim loại.
¨  Công nghệ sản xuất titan kim loại
Sản xuất titan kim loại thực hiện chủ yếu bằng phương pháp hoàn nguyên nhiệt kim loại clorua titan (TiCl4). Chất hoàn nguyên thường dùng là Mg, Na. Ngoài ra còn một số phương pháp khác sản xuất titan kim loại như: hoàn nguyên oxyt titan bằng can xi, bằng Mg, bằng nhôm. Sản xuất titan xốp theo quá trình Kroll là phổ biến nhất; là quá trình hoàn nguyên nhiệt clorua titan bằng Mg. Vì vậy quá trình luyện titan thường gắn với quá trình sản xuất pigment TiO2 theo phương pháp clorua trên dây chuyền công nghệ khép kín.
Nguyên liệu đầu vào là: rutil thiên nhiên, rutil nhân tạo và xỉ titan được clorua hoá tạo TiCl4 của quá trình sản xuất pigment clorua. Tiếp theo hoàn nguyên TiCl4 để nhận được titan xốp:
TiCl4 + 2Mg = Ti + 2 Mg Cl2. (7)
Điện phân MgCl2 tại xưởng sản xuất manhe để nhận được Mg kim loại, cung cấp cho hoàn nguyên titan và khí clo quay trở lại quá trình clorua hoá titan.
Sản phẩm titan xốp được đem luyện tinh trong lò chân không để được titan xốp sạch. Đem titan xốp đi nấu chảy trong lò hồ quang chân không hay lò điện xỉ, lò tia điện tử, lò plasma để nhận được titan thỏi.
Một số nhận xét:
-    Công nghệ sản xuất titan kim loại là một công nghệ đòi hỏi thiết bị hiện đại công nghệ cao.
-    Sản phẩm titan kim loại chủ yếu sử dụng cho những nước phát triển công nghệ hàng không và vũ trụ.
-    Số lượng tiêu thụ còn chưa nhiều.
-    Chi phí điện năng rất lớn: 2,5 Megaw h/tấn titan.
-    Chỉ thích hợp với các nước phát triển cao.
-    Sản xuất titan kim loại thực tế phải là Liên hợp sản xuất Ti–Mg.

1.      Xu hướng công nghệ chế biến sâu quặng titan ở Việt Nam
Công tác nghiên cứu chế biến quặng titan ở Việt Nam được bắt đầu từ những năm bảy mươi của thế kỷ trước. Công tác thăm dò địa chất đã phát hiện Việt Nam có trữ lượng nguồn tài nguyên khoáng sản titan đáng kể, cả sa khoáng và quặng gốc. Các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu chế biến sa khoáng titan theo một số công nghệ chủ yếu: Công nghệ sản xuất pigment dioxyt titan; luyện xỉ titan; sản xuất rutil nhân tạo; luyện ferro titan và công nghệ thiêu hoàn nguyên ilmenit. Cho tới nay Việt Nam mới sản xuất được ilmenit hoàn nguyên và xỉ titan.
Một số doanh nghiệp Việt Nam đang  sản xuất xỉ titan sử dụng công nghệ và thiết bị của Trung Quốc.
2. Một số nhận xét về công nghệ luyện xỉ titan tại Việt Nam hiện nay
1) Áp dụng công nghệ luyện xỉ titan để chế biến sâu bước đầu quặng titan là phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam và xu thế chung của thế giới vì:
-    Vốn đầu tư ban đầu không lớn. Sản phẩm có giá trị gia tăng lớn so với quặng đầu và có khả năng xuất khẩu, độ rủi ro không cao; thiết bị không phức tạp như công nghệ chế biến sâu; dây chuyền thiết bị ngắn gọn hơn công nghệ sản xuất rutil nhân tạo.
-    Tất cả sản phẩm luyện đều là thương phẩm, hầu như không có phế thải. Sản phẩm gang được luyên thành thép, dễ tiêu thụ ở thị trường trong nước. Sản phẩm xỉ titan xuất khẩu và cung cấp cho thị trường sản xuất que hàn trong nước.
-    Công nghệ luyện xỉ titan không quá phức tạp, có thể tự nghiên cứu R–D hoặc nhập thiết bị và nhận chuyển giao công nghệ. Trong khi đó công nghệ sản xuất rutil nhân tạo còn khó thực hiện ở Việt Nam do nhiều lý do, trong đó có vấn đề bảo vệ môi trường và bản quyền công nghệ…
-    Công nghệ luyện xỉ titan thích hợp cho xử lý quặng titan gốc Cây Châm vì thu được cả các nguyên tố quý cộng sinh Ta, Nb, V.
-    Hiện nay nhu cầu nhập nguyên liệu đầu vào cho sản xuất pigment bắt đầu tăng, xỉ titan nói chung là tăng, đặc biệt xỉ titan clorua tăng mạnh so với các nguyên liệu khác như rutil, rutil nhân tạo, có thể tăng đến 35% trong năm 2012. Cho nên sản phẩm xỉ titan có nhiều thuận lợi tiêu thụ trên thị trường thế giới.
2) Những tồn tại trong sản xuất xỉ titan ở Việt Nam hiện nay
Công nghệ và thiết bị luyện xỉ titan đều nhập từ Trung Quốc thuộc thế hệ thứ nhất, tuy có cải tiến nhưng đó là thế hệ sơ khai nên bộc lộ nhiều nhược điểm:
-    Thiết bị lạc hậu: Luyện trong lò hồ quang hở, điện cực tự thiêu, không điều khiển tự động, hệ thống thu bụi và xử lý khí thải kém. Do chỉ áp dụng công nghệ luyện một giai đoạn, không tận thu được nhiệt dư khí thải của lò, vì vậy chi phí điện năng còn cao (2800-2900KWh/tấn xỉ).
-    Tính chủ động trong sản xuất bị hạn chế vì chất hoàn nguyên là than cốc và chất kết dính là nhựa đường đều phải nhập từ Trung Quốc.
-    Dùng chất hoàn nguyên là than cốc có hàm lượng tro và lưu huỳnh cao, nên hiện nay hàm lượng lưu huỳnh trong xỉ còn rất cao (0,06-0,07%S), không thể dùng làm que hàn cao cấp(yêu cầu nhỏ hơn hoặc bằng 0,04%S).
-    Như vậy nếu dùng xỉ titan để sản xuất pigment và titan xốp (theo nhu cầu thị trường hiện nay) thì hàm lượng CaO và MgO còn cao và để sản xuất que hàn thì hàm lượng lưu huỳnh và phôt pho cũng còn cao, chưa đạt yêu cầu. Đối với thị trường nước ngoài thì yêu cầu chất lượng càng khắt khe hơn. Hiện nay trên thế giới các công ty sản xuất pigment có xu hướng nhập nguyên liệu đầu vào là xỉ titan nâng cao và xỉ titan clorua. Yêu cầu sản phẩm này phải có hàm lượng TiO2 phải ≥ 95% (đối với xỉ nâng cao), ≥85%(đối với xỉ clorua) và hàm lượng các tạp chất như: S, CaO, SiO2, Al2O3… phải rất nhỏ. (Bảng 7).
 

    3.Công nghệ luyện xỉ titan  ở Việt Nam nên hoàn thiện theo hướng hiện đạị
3.1. Hiện tại đã có một số doanh nghiệp đầu tư công nghệ và thiết bị luyện xỉ titan thế hệ thứ nhất của Trung Quốc, nêncải tạo để áp dụng công nghệ luyện và thiết bị luyện hiện đại hơn, hiệu quả kinh tế hơn, đặc biệt phải an toàn môi trường:
          - Cải tạo từ lò điện hồ quang kiểu hở thành lò luyện  bán kín hoặc lò kín
          - Cải tạo hệ thống thu bụi để an toàn môi trường và tận thu được nhiệt khí lò, góp phần giảm chi phí điện năng
          - Dùng chất hoàn nguyên của Việt Nam có hàm lượng tro và lưu huỳnh thấp hơn than cốc của Trung Quốc để cải thiện chất lượng xỉ và giảm giá thành
          - Nghiên cứu công nghệ mới tiến tới loại bỏ chất kết dính nhựa đường- một tác nhân gây ô nhiễm môi trường
      - Đầu tư thêm hệ thống thiết bị điều khiển  lò hồ quang tự động  để giảm giá thành và cải thiện điều kiện làm việc của công nhân

Tài liệu tham khảo
[1]. Reznhitrenko V.A; Luyện titan, NXB Luyện kim Moskva- 1963.
[2]. Garmata V.A và nnk,  Luyện titan, NXB Luyện kim Moskva- 1968.
[3]. Reznhitrenko V.A, Điện luyện quặng titan, NXB Khoa học Moskva-1969.
[4]Denhixop S.U, Điện luyện xỉ titan, NXB Luyện kim Moskva-1970.
[5].Vasutinski. N.A, Xi titan, NXB Luyện kim Moskva-1972.
[6]. Garmata V.A và nnk, Titan, NXB Luyện kim Moskva- 1983.
[7]. Mike Turbott, ERMS Synthetic  ERMS Synthetic Rutile, Ultra High Grade Feedstock for the TiO for the TiO2 Industry Industry, Sydney mining Club 6 june 2002
[8]. E.A. Walpole and J.D Winter, The Austpac ERMS and EARS  processes for the Manufacture of High-Grade Synthetic Rutile by the hydrochloric acid Leaching of Ilmenite.
[9].  New developments in the Altair hydrochloride TiO2 pigment process. www.pyrometallurgy.co.za/Pyro2006/Papers/189_Nama kwa.pdf.
[10].  M. Gous, An overview of the Namakwa Sands Ilmenite, Smelting Operations, Namakwa Sands, Vredenburg, South Africa, www.pyrometallurgy .co .za/Pyro2006/Papers/189_Namakwa.pdf.
[11].  H. Kotzé, D. Bessinger §, and J. Beukes, Ilmenite Smelting at Ticor SA, Ticor SA, Empangeni, South Africa, Kumba Resources R&D, Pretoria, South Africa, www.pyrometallurgy.co.za/Pyro2006/Papers/203_Ticor.pdf - .
[12]. P.C. Pistorius*, Ilmenite smelting: the basics 
[13]. P.C. Pistorius, Fundamentals of freeze lining behaviour in ilmenite smelting, www.saimm.co.za/Journal/v103n08p509.pdf.
[14]. N. RUGHUBIR* and D. BESSINGER*, Furnace dust from Exxaro Sands KZN, Research and Development, Exxaro.
www.encyclopedia.com/doc/1G1-77231378.html - Cached.
[16]. CVGK Murty, R. Upadhyay and s. Asokan, Electro smelting of ilmenite for production of TiO2 slag–Potential of India as a global player, Tata Steel, www.pyrometallurgy.co.za/InfaconXI/078.pdf

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét