1.Nếu áp dụng công nghệ hoàn nguyên:
1.1Áp dụng công nghệ hoàn nguyên trong lò hộp : chất lượng sản phẩm cao, tương đương của Trung Quốc(loại STH.20), rất thích hợp cho sản xuất que hàn điện. Nhưng quy mô không thể triển khai lớn, lao động thủ công, nặng nhọc
1.2 Áp dụng công nghệ lò tuynel hiện tại: Suất đầu tư nhỏ nhưng nhiệt độ hoàn nguyên không cao(khoảng 1000oC) chất lượng sản phẩm thấp, hàm lượng FeO ≥ 10%, khó tiêu thụ, hiệu quả kinh tế kém.
1.3 Áp
dụng công nghệ lò quay: chất lượng sản phẩm tốt, có thể tiêu thụ ở thị
trường trong và ngoài nước, nhưng vốn đầu tư lớn. một dây chuyền 15000
tấn/năm cũng phải đầu tư khoảng hơn 30 tỷ VNĐ.Trong khi đó chất hoàn
nguyên phải nhập của nước ngoài, nên không chủ động được sản xuất
Tổng thể công nghệ hoàn nguyên ilmenit đối với Việt Nam hiện nay có khó
khăn, thị trường tiêu thụ sản phẩm không lớn, chi phí đầu tư ban đầu
cũng rất lớn, kém hiệu quả kinh tế
2. Nếu áp dụng công nghệ sản xuất pigment titan thì chi phí đầu tư rất
lớn, tối thiểu cỡ trăm triệu USD. Hơn nữa nếu áp dụng công nghệ sulphat
sẽ phải xây dựng thêm nhà máy sản xuất axit sulphuric, sản phẩm phụ do
xử lý môi trường như sulphat sắt hai, thạch cao..cần phải có thị trường
tiêu thụ, thường công nghệ này vấn đề xử lý môi trường phức tạp và khó
khăn. Nếu áp dụng công nghệ clorua thì việc xử lý môi trường có khả năng
an toàn hơn, nhưng vốn đầu tư cũng rất lớn và đây là công nghệ độc
quyền, khó tìm được đối tác chuyển giao công nghệ
3. Nếu áp dụng công nghệ sản xuất rutil nhân tạo: Sản phẩm dễ tiêu thụ,
nhưng vốn đầu tư cũng rất lớn cũng phải lên đến cỡ hàng chục triệu USD.
Trong khi đó phải thải ra một lượng phế thải Fe2O3
rất lớn nên xử lý môi trường cũng khó khăn mà giá của sản phẩm rutil
cũng không cao chỉ tương đương giá xỉ titan, cho nên đối với Việt Nam
rất không hiệu quả kinh tế và không thích hợp.
4. Nếu
áp dụng công nghệ sản xuất xỉ titan thì thích hợp hơn: Thị trường tiêu
thụ lớn, sản phẩm thu được ngoài xỉ titan còn có cả gang hợp kim có giá
trị, không có phế thải, hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên: Nếu áp dụng
công nghệ hiện đại( lò hồ quang kín, điện cực graphit, có kèm theo hệ
thống xử lý khí lò hiện đại, tận thu được nhiệt dư khí thải, vận hành tự
động) thì vốn đầu tư ban đầu rất lớn bởi hai lý do: công suất thiết bị
phải đủ lớn, tối thiểu 30.000 tấn/năm, thiết bị hiện đại hiển nhiên là
giá đắt, một dây chuyền luyện xỉ titan hiện đại 30.000 tấn năm cũng
phải vài chục triệu USD, hơn nữa điện cực graphit phải nhập ngoại cũng
rất đắt( khoảng 100 triệu VNĐ/tấn). Vì vậy công nghệ luyện xỉ titan hiện
đại hiện nay vẫn chưa được áp dụng tại Việt Nam.
Nếu áp dụng công nghệ luyện xỉ titan cổ điển (luyện trong lò hở, điện
cực tự thiêu, chất hoàn nguyên là than cốc, hệ thống thu bụi đơn giản,
chất hoàn nguên là than cốc, chất kết dính là nhựa đường) thì có thuận
lợi:vốn đầu tư ban đầu nhỏ( khoảng 12-18 tỷ VNĐ/1 lò), sản phẩm xỉ titan
tương đối cao (
≥ 90% TiO2 ), dễ tiêu thụ ở
thị trường nước ngoài. Hiện nay sản xuất xỉ titan đang có hiệu quả kinh
tế. Tuy nhiên công nghệ luyện xỉ titan cổ điển đang bộc lộ một số nhược
điểm cơ bản:
- Môi trường làm việc không an toàn do
phát tán khí và bụi lò quá giới hạn cho phép rất lớn. Mà điều này do hai
lý do: dùng nhựa đường làm chất kết dính để tạo vòm lò và hệ thống thu
bụi thiết kế chế tạo chưa phù hợp.
- Lao động của công nhân nặng nhọc
- Phải nhập than cốc, nhựa đường, hồ điện cực từ nước ngoài nên tốn kém và không chủ động được sản xuấtCông ty VINANOMETAL hiện nay có nhiều giải pháp công nghệ và thiết bị mới về luyện xỉ titan. Tin tưởng rằng sẽ làm hài lòng các doanh nghiệp có nhu cầu sản xuất xỉ titan về vấn đề vốn đầu tư ban đầu thấp, an toàn môi trường, hiệu quả kinh tế cao, sản phẩm cạnh tranh được trên thị trường quốc tế, kể cả tây Âu và Nhật Bản, giảm chi chí điện năng, tăng thực thu TiO2 , cải thiện điều kiện làm việc của công nhân
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét