1. CÔNG NGHỆ LUYỆN ANTIMOAN
Để luyện antimon có thể áp dụng những công nghệ thích hợp
cho từng loại quặng
1.1.. Đối với quặng
giàu:
Có hàm lượng ≥ 40%Sb, có thể luyện trong lò phản xạ hoặc lò
điện hồ quang để nhận antimoan kim loại thô, có hàm lượng 92-93%Sb. Tinh luyện
antimoan thô bằng phương pháp hỏa tinh luyện để tách các tạp chất: Fe, As, Cu,
S... nhận được antimoan kim loại thương phẩm đạt chất lượng xuất khẩu
1.1.1. Đối với quặng
giàu sulphua có thể áp dụng công nghệ luyện lắng
1.1.2. Đối với quặng
giàu oxyt có thể áp dụng công nghệ luyện hoàn nguyên
1.2.3. Đối với quặng
giàu sulphua lẫn oxyt có thể áp dụng công nghệ luyện phản ứng- hoàn nguyên
2. Đối với quặng
nghèo:
Có hàm lượng ≥ 10-20%Sb, áp dụng công nghệ thiêu bay hơi
trong lò Hecsi nhận được bụi
oxyt antimoan với
hàm lượng Sb ³ 80% . Sau đó luyện hoàn nguyên bụi trong lò phản
xạ nhận được antimoan thô. Nếu trong quặng có As thì trong antimoan thô cũng chứa
As. Antimoan thô được tinh luyện tiếp theo bằng phương pháp hỏa tinh luyện để
tách As, nhận được antimoan thương phẩm đạt chất lượng xuất khẩu > 99,65-99,85%Sb.
3.
Đối với quặng rất nghèo có
hàm lượng < 5%Sb
Đầu tiên áp dụng công nghệ tuyển nổi để nhận đươc tinh quặng
≥ 10-20%Sb
Sau đó áp dụng công nghệ thiêu bay hơi để chuyển tinh quặng
≥ 10-20%Sb thành bụi oxyt antimoan, rồi luyện hoàn nguyên tiếp theo trong lò phản
xạ và tinh luyện nhận antimoan tinh đạt chất lượng xuất khẩu > 99,65-99,85%Sb.
3.
Đối với quặng antimoan nghèo có chứa vàng, mà không thể tách được vàng bằng
phương pháp thủy luyện cyanua:
Đầu tiên áp dụng công nghệ tuyển nổi để thu quặng
tinh antimoan chứa vàng
Sau đó luyện
quặng tinh antimoan chứa vàng nhận được
antiumoan thô chứa vàng
Tinh luyện antimoan thô chúa vàng nhận được antimoan
tinh chứa vàng
Thiêu bay hơi antimoan tinh nhận được bột oxyt
antimoan chất lượng cao và hợp kim chứa vàng
Phân kim hợp kim chứa vàng thu được vàng
2.SẢN XUẤT ANTIMOAN
Công nghệ:
Để chế biến quặng antimoan Việt Nam hiện nay thích hợp nhất
là áp dụng công nghệ : Thiêu bay hơi, luyện và tinh luyện lò phản xạ, nhận
antimoan xuất khẩu > 99,65-99,85%Sb.
Quy mô:
- Dây chuyền thiết
bị luyện antimon hoàn chỉnh công suất 1000 tấn sản phẩm/năm
- Tổng số công nhân bộ
phận luyện rất ít, khoảng 60 công
nhân
- Vốn đầu tư không lớn, khoảng 20-30 tỷ
Sản phẩm:
- Antimoan thỏi , chất lượng xuất khẩu, hàm lượng: > 99,65-99,85%Sb.
Giá
bán: Hiện nay ( tháng 4/2014) khoảng : 9500-10.000 USD/ tấn
Tổng
mặt bằng xây dựng: Khoảng 1,5-2 ha
Hiệu
quả kinh tế: Rất cao
3.THIẾT KẾ THI CÔNG-CHUYỂN
GIAO CÔNG NGHỆ
3.1. Công ty Cổ phần Tư vấn Thiết kế Luyện kim màu
Việt Nam sẵn sàng đáp ứng yêu cầu của chủ đầu tư trong việc: lập dự án đầu tư,
thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật- lập bản vẽ thi công toàn bộ công trình từ
công đoạn: tuyển nổi, thiêu bay hơi, luyện
antimoan thô, tinh luyện nhận antimoan
thương phẩm đạt chất lượng xuất khẩu
3.2. Công ty Cổ phần Tư vấn Thiết kế Luyện kim màu
Việt Nam cũng sẵn sàng chuyển giao công nghệ toàn bộ công trình kể trên
3.3. Công ty Cổ phần Tư vấn Thiết kế Luyện kim màu
Việt Nam cũng sẵn sàng chuyển giao công nghệ toàn bộ công trình chế biến quặng antimoan
nghèo chứa vàng với hiệu quả kinh tế cao
3.4. Toàn bộ thiết bị chế biến quăng antimoan có thể
thiết kế và chế tạo trong nước
4.MỘT
SỐ HÌNH ẢNH VỀ THIẾT BỊ LUYỆN ANTIMOAN VÀ SẢN PHẨM
Thiết
bị đường ống thu bụi của phân xưởng thiêu bay hơi antimoan
Lò
phản xạ luyện bụi oxyt antimoan và tinh luyện antimoan tạo ra antimoan thỏi
thương phẩm
Antimoan thỏi thương phẩm
Lò
phản xạ sản xuất bột oxyt antimoan độ sạch cao
Lò hồ quang 100 KVA luyện phản ứng- hoàn nguyên quặng hỗn hợp sulphua-oxyt antimoan
2. CÔNG NGHỆ LUYỆN THIẾC
2.1. Công nghệ luyện
thiếc
Công nghệ luyện thiếc:
Áp dụng công nghệ luyện hoàn
nguyên quặng tinh thiếc (Caxiterit) bằng các bon ở nhiệt độ cao. Phản ứng luyện
hoàn nguyên cơ bản như sau:
SnO2 +
CO = SnO +
CO2
(1)
SnO + CO = Sn + CO2 (2)
Hiện nay có hai công nghệ
luyện hoàn nguyên quặng tinh thiếc:
Công nghệ luyện trong lò phản
xạ và công nghệ luyện trong lò điện hồ quang. Công nghệ luyện thiếc lò điện có
nhiều ưu điểm hơn công nghệ lò phản xạ. Khi luyện thiếc lò điện người ta phải
cho thêm phụ gia Ferrosilic 75%Si và vôi
(Ca0) với mục đích dùng Ferrosilic để thu hút tách phần cơ bản sắt khỏi thiếc thô vào Ferrosilic. Nhờ đó mà công
nghệ lò điện có thể xử lý được loại quặng nhiều sắt khó luyện trong lò phản xạ.Vôi
cho vào đóng vai trò làm chất trợ dung tạo
xỉ. Để quá trình vận hành lò điện hồ quang thuận tiện, đạt được chỉ tiêu kinh tế
kỹ thuật tối ưu cần phải tính toán phối liệu hợp lý sao cho thành phần xỉ lò điện
tối ưu. Xỉ lò điện có thành phần tối ưu như sau: CaO+MgO= 30-35% , SiO2 = 42-45%, Al2O3 =
10-15% , FeO = 2-2,5% còn lại là một số chất tạp khác. Độ axit 1,35. Sơ đồ
nguyên lý luyện thiếc lò điện trình bày trên hình 1
Quá trình hỏa tinh luyện thiếc:
Thiếc thô nhận được thường
chứa các tạp chất như: Fe, Cu, As, Sb, Pb, Bi. Vì vậy thiếc thô chỉ đạt hàm lượng
95-97% Sn. Công nghệ tinh luyện đầu tiên thường áp dụng là công nghệ hỏa tinh
luyện, bao gồm các công đoạn tinh luyện nối tiếp nhau liên tục
Tinh luyện tách sắt:
Sắt trong thiếc tồn tại dưới
dạng các hợp chất FeSn2, FeSn, Fe2Sn, Fe3Sn, Fe3Sn2,
có nhiệt độ nóng chảy và tỉ trọng cao hơn thiếc. Chúng có thể tồn tại ở dạng
tinh thể tự do có độ hạt đến cỡ nhỏ hoặc thể keo lơ lửng trong thiếc lỏng. Bằng
phương pháp thiên tích có thể tách sắt một cách dễ dàng khỏi thiếc lỏng
Tinh luyện tách đồng:
Tách đồng dùng lưu huỳnh, cơ
chế phản ứng như sau:
Sn +
S = SnS (3)
Sau đó SnS +
Cu = CuS +
Sn (4)
Tinh luyện tách As và Sb:
Nhôm có thể hợp kim hóa với As và Sb tạo thành hợp chất:
AlAs và AlSb có nhiệt độ nóng chảy tương ứng : 1700 oC và 1050- 1080
oC. Những hợp chất này có khối lượng riêng nhỏ hơn thiếc rất nhiều nên dễ
nổi lên trên mặt thiếc lỏng, tạo bọt, vớt ra dễ dàng.
Tinh luyện tách Bi:
Dùng Mg và Na để tách Bi.
Khuấy Mg ở 380-400 oC. Khuấy Na ở 230-300 oC. Sau đó đánh
tơi bã và vớt bã như trên
Tinh luyện tách Pb:
Tách Pb dùng SnCl2
. Dựa vào phản ứng thuận nghịch:
Pb + SnCl2
↔ PbCl2 + Sn
(5)
Điện phân tinh luyện thiếc:
Điện phân tinh luyện thiếc mục
đích nâng cao chất lượng thiếc tinh loại 2 ( 99,75%Sn) lên thiếc tinh loại
1(99,95%Sn), đồng thời thu hồi thêm kim loại quý như vàng. Áp dụng phương pháp
điện phân trong dung dịch trong dung dịch axit. Khi điện phân cực dương là thiếc
tinh loại 2, cực âm là tấm cái thiếc loại 1. Các phản ứng điện hóa xảy ra như sau:
- Phản ứng cực dương: Thiếc
tan ra Sn -2e →
Sn 2+
(29)
- Phản ứng cực âm: Ion Sn 2+ phóng điện và được hoàn
nguyên về thiếc kim loại
Sn 2+ + 2e → Sn (30)
Khi điện phân tại cực dương
các nguyên tố có điện thế đứng sau thiếc như: Sb, As, Bi, Cu, Ag, Au, chúng ở lại cực dương ở dạng hợp kim hoặc hợp
chất không hòa tan vì khó bị oxy hóa đi vào dung dịch, trở thành bùn dương cực.
Điện thế tiêu chuẩn của chì
gần với điện thế của thiếc, nhưng chì tác dụng với SO4- -
tạo thành kết tủa chì sulphat, có lợi
cho việc tách khỏi thiếc. Các tạp chất như: Fe, In có điện thế tiêu chuẩn đứng
trước thiếc. Ở cực dương chúng oxy hóa trước thiếc, ở cực âm hoàn nguyên sau
thiếc mà ở lại trong dung dịch. Như vậy trong quá trình điện phân các tạp chất
hoặc ở lại bùn dương cực, hoặc ở lại dung dịch điện giải, nên thiếc âm cực trở
lên được sạch hơn
Thực tế công nghệ luyện thiếc của Việt Nam
Lịch sử công nghệ luyện thiếc:
Ở nước ta, thiếc được khai
thác sớm nhất tại vùng Pia Oắc – Cao Bằng khoảng cuối thế kỷ XVIII. Đến 1945,
người Pháp đã khai thác khoảng 32.500 tấn quặng tinh thiếc. Sau hoà bình lập lại, mỏ thiếc Tĩnh
Túc Cao Bằng được Liên Xô (cũ) thiết kế và trang bị bắt đầu hoạt động từ 1958.
Đây cũng là mỏ thiếc lớn đầu tiên khai thác, chế biến có quy mô công nghiệp.
Quá trình công nghệ luyện thiếc có thể
chia ra 2 giai đoạn: Giai đoạn 1- Luyện thiếc trong lò phản xạ. Giai đoạn
2: Luyện thiếc trong lò điện hồ quang. Công nghệ luyện thiếc lò phản xạ do Liên
Xô giúp đỡ xây dựng. Công nghệ luyện thiếc lò điện do Việt Nam tự nghiên cứu
thiết kế và xây dựng.
* Giai đoạn 1: từ 1958-1990.
Áp dụng công nghệ luyện thiếc trong lò phản xạ (15m2 ), tinh luyện bằng
phương pháp hỏa tinh luyện thiên tích. Thiết kế và thiết bị toàn bộ của Liên
xô. Nguyên liệu đầu vào là quặng casiterit hàm lượng ≥ 65% Sn. Sản phẩm là thiếc
thỏi loại 2( 99,75% Sn). Thiết bị lọc bụi tĩnh điện loại XP-2( 2 buồng, 4 trưỡng
24 cực) chỉnh lưu cơ khí AΦ18. Trong thời gian cuối đã thu nhỏ lò xuống còn 7 m2
. Từ năm 1978 đến 1990 việc luyện thiếc tiến hành ở xưởng luyện Lưu Xá, Thái
Nguyên theo thiết kế của Viện khoa học Công nghệ Mỏ và Luyện kim, khi đó vẫn áp
dụng công nghệ luyện lò phản xạ, tinh luyện bằng phương pháp thiên tích. Thiết
bị chính là lò phản xạ 6,4 m2 , thiết bị lọc bụi tĩnh điện loại TC-
352, 4 trường x 12 cực, chỉnh lưu cơ khí Trung Quốc. Nhược điểm của công nghệ
luyện lò phản xạ là chỉ xử lý được
nguyên liệu giàu thiếc (> 50% Sn), thực thu thiếc thấp, tiêu thụ nhiều
nguyên liệu, năng suất lò thấp, lưu lượng khí lò lớn nên thu bụi rất cồng kềnh,
đặc biệt tuổi thọ của lò rất thấp chỉ được 1 năm
*Giai đoạn 2: từ năm 1991 đến
nay, luyện thiếc trong lò điện hồ quang, tinh luyện bằng phương pháp thiên
tích. Thiết bị luyện là lò điện hồ quang. Thiết bị tinh luyện là lò điện trở.
Lò điện hồ quang gồm: biến thế lò, thân lò,
hệ thống nâng hạ điện cực, tủ điều khiển, hệ thống đường ống, thu bụi và ống
khói. Ưu điểm: cho phép luyện nguyên liệu khó chảy, lượng khí lò ít hơn lò phản
xạ nên hệ thống thu bụi nhỏ gọn hơn nhiều, xỉ nghèo < 0,35% Sn, năng suất lò
cao, thực thu thiếc cũng cao hơn lò phản xạ. Hiện nay công nghệ luyện thiếc
trong lò điện được áp dụng hầu hết trong toàn quốc, tại các nơi: Tĩnh Túc, Lâm
Đồng, Quỳ Hợp, Thái Nguyên…. Thiết bị lò điện hồ quang có công suất 100-250KVA.
Sản lượng thiếc cao nhất 4000 tấn/năm,
hiện nay khoảng 2500 tấn/năm. Gần đây đã áp dụng công nghệ điện phân tinh luyện
thiếc, nhận được thiếc thỏi có chất lượng cao hơn, có thể đạt thiếc thỏi loại
1( 99,95% Sn)
Cần lưu ý rằng: Công nghệ luyện thiếc hiện nay hoàn toàn do kỹ sư
công nghệ Việt Nam nghiên cứu, thiết kế chế tạo nên dây chuền thiết bị. Người
đầu tiên nghiên cứu và ứng dụng công nghệ thiếc lò điện ở Việt Nam là kỹ sư luyện
kim Cao Văn Hồng. Tất cả thiết bị
đều do trong nước cung cấp, bảo đảm thực thu thiếc cao, xỉ thải thấp( 0,3%Sn), nhỏ gọn , cơ động, phù hợp với nguồn tài
nguyên trữ lượng nhỏ, phân tán, chi phí nguyên liệu thấp, nhân công ít, cạnh
tranh được với nước ngoài. Công nghệ luyện thiếc lò điện của Việt Nam đã thay
thế được hoàn toàn công nghệ luyện thiếc lò điện của Liên xô trước khi nó được
du nhập vào Việt Nam. Dưới đây là một số hình ảnh về thiết bị luyện và tinh luyện
thiếc tại Việt Nam hiện nay.
lò
điện hồ quang luyện thiếc 150KVA
Bể
điện phân tinh luyện thiếc chỉnh lưu 100KVA, năng suất 500-600 tấn/năm
Chỉnh
lưu 100KVA cho điện phân thiếc
2.2.Con đường
hoàn thiện công nghệ luyện thiếc, nâng cao hiệu quả kinh tế, môi tường an toàn
và thân thiện hơn:
2.2.1.Nâng cao thực thu, giảm
đáng kể chi phí vận hành bằng đổi mới công nghệ:
- Luyện lò phản xạ kết hợp
luyện lò phuminh thay cho công nghệ luyện lò điện. Nhờ đó mà nâng cao được thực
thu do giảm được hàm lượng thiếc trong xỉ thải xuống nhỏ hơn 0,1%. Đồng thời
không phải dùng điện cực graphit và than cốc nhập ngoại (thay than cốc bằng
than antraxit Việt Nam), giảm đáng kể
chi phí điện năng
- Cơ giới hóa và tự động hóa
công đoạn chuẩn bị liệu, đúc thiếc thỏi nên giảm đáng kể chi phí nhân công và
làm tăng mức độ ổn định trong vận hành công nghệ
- Thay hệ thống lọc bụi hiện
nay tại các nhà máy bằng hệ thống lọc bụi hoàn thiện hơn, bảo đảm nâng cao thực
thu bụi thiếc, tăng tuổi thọ túi vải, an toàn môi trường, bảo đảm nồng độ bụi
trong khí thải < 50mg/m3, nồng độ CO < 270mg/m3 ,
SO2 < 135mg/m3 .
2.3.THIẾT KẾ THI CÔNG-CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
2.3.1. Công ty Cổ phần Tư vấn Thiết kế Luyện kim màu Việt Nam sẵn sàng đáp ứng yêu cầu của chủ đầu tư trong việc: lập dự án đầu tư, thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật- lập bản vẽ thi công toàn bộ công trình từ công đoạn: luyện lò phản xạ đến lò fuminh nhận thiếc thương phẩm đạt chất lượng xuất khẩu
2.3.2. Công ty Cổ phần Tư vấn Thiết kế Luyện kim màu Việt Nam cũng sẵn sàng chuyển giao công nghệ toàn bộ công trình kể trên
2.3.3. Công ty Cổ phần Tư vấn Thiết kế Luyện kim màu Việt Nam cũng sẵn sàng chuyển giao công nghệ toàn bộ công trình chế biến thiếc nghèo với hiệu quả kinh tế cao
2.3.4. Toàn bộ thiết bị chế biến quăng thiếc có thể thiết kế và chế tạo trong nước
2.3.5 Công ty Cổ phần Tư vấn Thiết kế Luyện kim màu Việt Nam cũng sẵn sàng chuyển giao công nghệ điện phân thiếc chất lượng cao
≥ 99,99%Sn
2.3.THIẾT KẾ THI CÔNG-CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
2.3.1. Công ty Cổ phần Tư vấn Thiết kế Luyện kim màu Việt Nam sẵn sàng đáp ứng yêu cầu của chủ đầu tư trong việc: lập dự án đầu tư, thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật- lập bản vẽ thi công toàn bộ công trình từ công đoạn: luyện lò phản xạ đến lò fuminh nhận thiếc thương phẩm đạt chất lượng xuất khẩu
2.3.2. Công ty Cổ phần Tư vấn Thiết kế Luyện kim màu Việt Nam cũng sẵn sàng chuyển giao công nghệ toàn bộ công trình kể trên
2.3.3. Công ty Cổ phần Tư vấn Thiết kế Luyện kim màu Việt Nam cũng sẵn sàng chuyển giao công nghệ toàn bộ công trình chế biến thiếc nghèo với hiệu quả kinh tế cao
2.3.4. Toàn bộ thiết bị chế biến quăng thiếc có thể thiết kế và chế tạo trong nước
2.3.5 Công ty Cổ phần Tư vấn Thiết kế Luyện kim màu Việt Nam cũng sẵn sàng chuyển giao công nghệ điện phân thiếc chất lượng cao
≥ 99,99%Sn









